Thứ năm,23/11/2017 | 14:40:40 GMT+7

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngày đăng: 15/07/2016

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là vấn đề cơ bản đầu tiên và thiêng liêng của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Độc lập, tự do là quyền dân tộc, quyền con người, là xuất phát điểm đối với mọi dân tộc trên con đường đi tới phồn vinh và hạnh phúc.

1. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó phản ánh mối quan hệ biện chứng, thống nhất giữa con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam và quá trình hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Có hiểu bản chất, nội dung rộng lớn của mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giá trị, ý nghĩa của tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thì mới có thể hiểu được tại sao nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước lên vũ đài chính trị, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đặt cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, hòa vào trào lưu cách mạng thế giới và xu thế thời đại đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1944, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chính thức ra đời, gánh vác sứ mệnh lịch sử của dân tộc và giai cấp mà Đảng và nhân dân giao phó, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Hơn bảy thập kỷ qua, Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng ấy, cùng với nhân dân cả nước, làm nên những chiến thắng vĩ đại và huy hoàng của cách mạng Việt Nam.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 17-7-1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt là sự kế thừa, nối tiếp tinh thần và ý chí quyết giành “độc lập tự do” cho dân tộc đã từng được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập (1945) và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tháng 12-1946). “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”-Lời kêu gọi thiêng liêng, bất hủ của Bác là khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam, giá trị to lớn trong học thuyết Hồ Chí Minh và cũng chính là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự tồn tại và phát triển của dân tộc; đồng thời là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với nhân loại tiến bộ, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống và hạnh phúc của mình.

2. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng mang tầm chân lý, một chân lý bất hủ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc. Giá trị và ý nghĩa to lớn của chân lý bất hủ này chính là nằm ở nội hàm rộng lớn và tính chất cách mạng triệt để của tư tưởng đó.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là vấn đề cơ bản đầu tiên và thiêng liêng của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Độc lập, tự do là quyền dân tộc, quyền con người, là xuất phát điểm đối với mọi dân tộc trên con đường đi tới phồn vinh và hạnh phúc. Dân tộc không thể phát triển, đất nước không thể phồn vinh, nhân dân không thể có cơm no, áo ấm và cuộc sống hạnh phúc nếu không có được độc lập, tự do. Ý nghĩa thời đại sâu sắc và lâu dài của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chính là ở chỗ: Có độc lập, tự do thì có tất cả. Độc lập, tự do của dân tộc; quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do là vô cùng quý giá và thiêng liêng, không thể xâm phạm.

Muốn có độc lập, tự do, phải đấu tranh. Mọi biểu hiện trông chờ vào sự “ban ơn” của các thế lực đế quốc, thực dân, không tự đứng lên để giải phóng, không có con đường đấu tranh đúng, thì không thể có độc lập, tự do thực sự. Giành lấy và bảo vệ độc lập, tự do là yêu cầu sống còn của các dân tộc. Khi độc lập, tự do bị xâm phạm thì cả dân tộc phải kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập và tự do ấy. Trong thực tiễn, với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám; là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp các thế hệ người Việt Nam lên đường chiến đấu chống kẻ thù của độc lập, tự do, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu giang sơn về một mối, giành hoàn toàn độc lập, tự do cho dân tộc, tạo tiền đề đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một chân lý đấu tranh, đấu tranh cho chân lý, một động lực hành động.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là tư tưởng mang tính cách mạng sâu sắc và triệt để. Tính cách mạng sâu sắc, triệt để của tư tưởng thể hiện ở chỗ, dù tư tưởng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến trong một thời điểm cụ thể của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng nó gắn bó rất chặt chẽ với cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, một sự nghiệp vĩ đại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phấn đấu, hy sinh cả cuộc đời. Đấu tranh giành độc lập, tự do, vì độc lập, tự do đã thực sự nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản.

Tính cách mạng sâu sắc, triệt để của tư tưởng còn thể hiện cụ thể ở nội dung rộng lớn của tư tưởng, bao hàm cả việc đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Độc lập, tự do chỉ có ý nghĩa và giá trị thực sự khi nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì” (1). Khi đã có độc lập, tự do thì điều quan trọng là phải làm cho giá trị của độc lập, tự do trở nên có ý nghĩa thực sự hơn, đó là ai cũng có cơm ăn, áo mặc, việc làm, học hành, quyền làm chủ, quyền con người. Trước lúc đi xa, Người vẫn nhắc nhở Đảng và Chính phủ ta cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân – là điều mà cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (2).

Như vậy, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” có nội hàm rộng lớn, giá trị to lớn và tính cách mạng sâu sắc. Nó không chỉ là độc lập, tự do của Tổ quốc mà còn là hạnh phúc của nhân dân; nó không chỉ được thể hiện trong đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược, mà còn thể hiện sâu đậm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là cách biểu đạt khác, phản ánh điều cốt lõi trong mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu suốt hơn tám thập kỷ qua, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là mối quan hệ thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau trong thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; do đó, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội.

Ảnh minh họa/TTXVN

3. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu là một trong những yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt của quân đội, với tính cách là một tổ chức quân sự của một nhà nước, một giai cấp nhất định. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội kiểu mới là sự phản ánh trực tiếp, cụ thể sứ mệnh lịch sử của nó trong sự nghiệp đấu tranh chống các giai cấp bóc lột, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Là quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, Quân đội ta luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội cũng là mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng và là khát vọng của dân tộc, quyết giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Quân đội ta không có lợi ích nào khác. Nội dung rộng lớn của mục tiêu, lý tưởng ấy được thể hiện trong nội hàm và được phản ánh trong tính cách mạng triệt để của luận điểm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Quân đội ta luôn chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cũng chính là chiến đấu vì chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngay từ khi mới ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã cùng với nhân dân cả nước tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngay sau đó, Quân đội ta cùng với nhân dân cả nước đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giữ vững chính quyền cách mạng và tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là giành thắng lợi trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội không quản hy sinh, khó khăn, gian khổ, nêu cao tinh thần quyết tâm “đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở thành mục tiêu chiến đấu trực tiếp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ở miền Bắc, Quân đội ta đã cùng toàn dân đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện đắc lực sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Ở miền Nam, Quân đội ta đã phát huy cao độ vai trò nòng cốt trong đấu tranh quân sự, hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị và ngoại giao, tạo sức mạnh tổng hợp làm phá sản các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn, tiến tới kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân đặt ra những yêu cầu mới. Quân đội là lực lượng nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; tham gia xây dựng chế độ xã hội mới. Quân đội đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng ở miền Nam, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục hòa bình, tiến hành truy quét lực lượng phản động, cùng nhân dân cả nước tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; tiếp đó, làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Cam-pu-chia. Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới, từng bước hội nhập khu vực và thế giới, Quân đội ta tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân và bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, quân đội tích cực tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, phòng tránh thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở; giúp nhân dân phát triển kinh tế, tham gia xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; nhất là ở địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… Qua đó, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Toàn bộ quá trình đó thực chất là quá trình đấu tranh giành, bảo vệ, củng cố độc lập, tự do của Tổ quốc và góp phần nâng cao địa vị làm chủ, cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Sự thống nhất giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” thể hiện rất sâu sắc ở đây.

4. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta tiến hành trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những thay đổi nhanh chóng, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định. Tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp. Đối với nước ta, sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực ngày càng được tăng cường, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo điều kiện, tiền đề cho bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc hơn trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa quân đội” nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước tình hình đó, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đòi hỏi chúng ta phải ra sức củng cố quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền đất nước, bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt.

Để Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, thực sự là lực lượng nòng cốt trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã giao cho, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn về sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quân đội.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội là vấn đề có tính nguyên tắc, bảo đảm cho quân đội luôn giữ vững và thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của mình. Để thực hiện tốt nguyên tắc này cần tiếp tục thực hiện nghiêm cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo tinh thần Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX). Có nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức đảng, bảo đảm cho Đảng luôn nắm chắc quân đội, quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Tăng cường sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quân đội. Các tổ chức trong bộ máy Nhà nước, chính quyền nhân dân các cấp phải nhận thức rõ trách nhiệm và chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Các cấp, các ngành cần tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với quân đội.

Hai là, kiên quyết, kiên trì thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong tình hình mới, trước sự tác động tình hình, đặc biệt là âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch, quân đội càng phải kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn xác định tốt nhiệm vụ, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhận thức sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ba là, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để hiện thực tốt vai trò nòng cốt trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, quân đội cần tiếp tục quán triệt, nắm vững phương hướng, mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo và nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đã được xác định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Đồng thời chủ động, tích cực tham gia quán triệt, tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức và thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng về củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Tích cực, chủ động làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước trong hoạch định đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật về quân sự, quốc phòng; xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng-an ninh, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên cơ sở thế trận lòng dân vững chắc. Quán triệt và triển khai thực hiện quan điểm của Đảng về kết hợp giữa kinh tế, xã hội, văn hóa với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng; làm tốt việc nghiên cứu dự báo, nắm chắc tình hình, xây dựng và bổ sung các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Bốn là, tích cực, chủ động đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch phủ nhận mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta.

Hiện nay, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa; chúng tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, đưa ra nhiều luận điểm phản khoa học như: “quân đội trung lập”; “quân đội đứng ngoài chính trị”; “quân đội chỉ trung thành với lợi ích quốc gia, dân tộc”; quân đội không chịu sự lãnh đạo của giai cấp, lực lượng chính trị nào…, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Vì vậy, Quân đội phải tích cực, chủ động đấu tranh trực diện với các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về xây dựng quân đội kiểu mới, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Đồng thời, vạch trần bản chất chính trị phản động, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, chuyển hóa lập trường chính trị, bản chất giai cấp, tiến tới vô hiệu hóa lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là sự thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

Thượng tướng LƯƠNG CƯỜNG, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam

…………………………..

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.175.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.167.

(Nguồn QĐND)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

go top